|
|
MỘT CUỘC TRAO ĐỔI PĀLI QUA FACEBOOK
Bhikkhu Indacanda |
![]() |
||
|
|
HỎI: "Dve ’me ānanda piṇḍapātā samā samaphalā samavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā ca." Chữ Mahānisaṃsatarā trong đoạn này con ko biết phân tích sao? ĐÁP: Mahā-ānisaṃsa-tarā. Cái chữ tara này học ở sách vở th́ chỉ có các ví dụ về tính từ, ở đây là compound noun có nhiệm vụ của tính từ. Để ư trường hợp này. Theo sách giáo khoa, tara là tiếp đầu ngữ để so sánh hơn, tama là so sánh hạng nhất. HỎI: Với chữ ākiritattā trong đoạn này nữa "Tasmiṃ sakaṭe dhaññassa ākiritattā ‘dhaññasakaṭan ’ti jano voharati." ĐÁP: आकिरितत्त <rd> ------------------------ (nt.) [ākirita + tta; abstr. fr. ākirita, pp. of ākirati Caus.] the fact or state of being filled or heaped with Miln 173 (sakataṃ dhaññassa ā). Tiếp vĩ ngữ tā nói về bản tánh, tính chất như là muditā, devatā, v.v... ākirita là qkpt được dùng như là danh từ (danh động từ). Cái này không có tương đương ở tiếng Việt, nhưng việc diễn tả ư nghĩa th́ rất powerful. HỎI: Oh, dạ, chi tiết này hay quá ^.^ ĐÁP: ākirati có nghĩa là"rải tung tóe", PTS ghi là "chất đống". Khi dịch đoạn này th́ tôi liên tưởng đến h́nh ảnh người ta đổ lúa vào xe th́ rải đều ra sàn xe, nhất là các góc. HỎI: Chữ āgama được Sư dịch là sự truyền thừa, xin Sư làm sáng tỏ cho con điểm này ^^ ĐÁP: āgama (tức là A Hàm bên Hán Tạng) lấy nghĩa "truyền thừa" đó ở Chú Giải th́ phải. Có nhiều từ dịch không thể vâng lời tự điển được, mà c̣n phải dựa vào ngữ cảnh, VÀ 1 ĐIỂM QUAN TRONG là phân từ ra thành từng phần nhỏ và nắm lấy nghĩa gốc, rồi từ đó "phăng" ra. Các học giả làm từ điển cũng như vậy thôi. Nghiên cứu các bản dịch của Tk Indacanda, Sư sẽ t́m thấy một số từ, rất ít, được ghi nghĩa khác với từ điển, nhưng bảo đàm không làm ẩu, phải suy nghĩ đến sói trán mới dám bạo gan vậy. HỎI: ^.^ dạ. kết câu "suy nghĩ đến sói trán" "Tamenaṃ passeyya kocideva puriso rañño santikā laddhavaro laddhayasa-dhanabhogo ādeyyavacano balavicchitakārī" Bạch Sư ở đoạn trên chữ deva trong cụm từ kocideva có chức năng là ư nghĩa như thế nào thưa Sư ? Mỗi lần đọc thấy chỗ nào ṭ ṃ là con hay hỏi. ĐÁP: kocideva = koci-d-eva - koci = ko + ci (1 người nào đó không xác định là ai) Nghi vấn đại danh từ + CI sẽ trở thành đại danh từ không xác định, vd. yaṃ kiñci kusalakammaṃ = bất cứ thiện nghiệp nào ... kiṃ+ci =kiñci, hoặc ở 1 ví dụ khác là kañci = kaṃ+ci, kassaci = kassa + ci, kenaci = kena+ci, v.v... - d = sarasandhi - eva = từ nhấn mạnh HỎI: Chữ rañño santikā được Sư dịch là từ Đức Vua, như vậy chữ santika ở đây có tác dụng làm ǵ thưa bạch Sư ? ĐÁP: rañño santikā = từ sự hiện diện của đức vua (rañño là cách thứ 4, 6. raññā là cách thứ 3, 5). Cũng có thể hiểu là đức vua chỉ ban lệnh chứ ngài không trực tiếp ban cho. HỎI: Ây da, chữ eva với chữ koci dùng theo luật āgamasandhi mà con quên, con cám ơn Sư nhiều. Hồi đó con học như vẹt, chứ chưa áp dụng hay gặp thực tế nhiều, giờ gặp mới thấy mắc cỡ ghê. ĐÁP: Sādhu, sādhu, sādhu! ***
|
|||