|
08.
MAHĀSĪHANĀDASUTTAṂ
(tiếp theo)
|
|
08. MAHĀSĪHANĀDASUTTAṂ - Tạng
Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ |
08. KINH CA-DIẾP
SƯ TỬ HỐNG - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas, phiên bản 7.07 |
|
Tapopakkamaniratthakatā
397. Acelako cepi Kassapa hoti, muttācāro, hatthāpalekhano
‑pa‑ iti evarūpaṃ addhamāsikampi
pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharati. Tassa cāyaṃ
sīlasampadā cittasampadā paññāsampadā abhāvitā hoti
asacchikatā. Atha kho so ārakāva sāmaññā ārakāva brahmaññā.
Yato kho Kassapa bhikkhu averaṃ abyāpajjaṃ mettacittaṃ
bhāveti, āsavānañca khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati Kassapa bhikkhu samaṇo
itipi brāhmaṇo itipi.
|
15. - Này Kassapa nếu một người
sống lơa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay...
như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng chỉ ăn
một lần, nhưng nếu vị này không tu và không chứng được giới cụ
túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc, thời vị ấy cách rất xa Sa-môn vị,
cách rất xa Bà-la-môn vị. Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập
từ bi tâm, không hận thù, không ác hại và với sự diệt tận các
lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát,
tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa Tỷ-kheo ấy được gọi là
Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.
|
|
Sākabhakkho
cepi Kassapa hoti, sāmākabhakkho ‑pa‑ vanamūlaphalāhāro
yāpeti pavattaphalabhojī. Tassa cāyaṃ sīlasampadā
cittasampadā paññāsampadā abhāvitā hoti asacchikatā. Atha
kho so ārakāva sāmaññā ārakāva brāhmaññā. Yato kho Kassapa
bhikkhu averaṃ abyāpajjaṃ mettacittaṃ bhāveti, āsavānañca
khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati
Kassapa bhikkhu samaṇo itipi brāhmaṇo itipi.
|
Này Kassapa, nếu một người chỉ
ăn cỏ lúa để sống, này Kassapa nếu người ấy chỉ ăn lúa tắc, gạo
lức, ăn hột cải nivàra... ăn trái cây, rễ cây trong rừng, ăn
trái cây rụng để sống, nhưng nếu vị này không tu và không chứng
được giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc thời vị ấy cách rất xa
Sa-môn vị, cách rất xa Bà-la-môn vị. Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo
sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự
diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại,
tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy
được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.
|
|
Sāṇāni cepi
Kassapa dhāreti, masāṇānipi dhāreti ‑pa‑ sāyatatiyakampi
udakorohanānuyogamanuyutto viharati. Tassa cāyaṃ sīlasampadā
cittasampadā paññāsampadā abhāvitā hoti asacchikatā. Atha
kho so ārakāva sāmaññā ārakāva brahmaññā. Yato kho Kassapa
bhikkhu averaṃ abyāpajjaṃ mettacittaṃ bhāveti, āsavānañca
khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati
Kassapa bhikkhu samaṇo itipi brāhmaṇo itipīti.
|
Này Kassapa, nếu một người mặc
vải gai thô, mặc vải gai thô trộn với các vải khác,... sống một
đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi),
nhưng nếu vị này không tu và không chứng được giới cụ túc, tâm
cụ túc, tuệ cụ túc, thời vị ấy cách rất xa Sa-môn vị, cách rất
xa Bà-la-môn vị. Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm,
không hận thù, không ác hại và với sự diệt tận các lậu hoặc, tự
giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải
thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được
gọi là Bà-la-môn.
|
|
398. Evaṃ vutte acelo Kassapo Bhagavantaṃ etadavoca
“Dukkaraṃ bho Gotama sāmaññaṃ dukkaraṃ brahmaññan”ti.
Pakati
kho esā Kassapa lokasmiṃ dukkaraṃ sāmaññaṃ dukkaraṃ
brahmaññanti. Acelako cepi Kassapa hoti, muttācāro,
hatthāpalekhano ‑pa‑ iti evarūpaṃ addhamāsikampi
pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharati. Imāya ca
Kassapa mattāya iminā tapopakkamena sāmaññaṃ vā abhavissa
brahmaññaṃ vā dukkaraṃ sudukkaraṃ, netaṃ abhavissa kallaṃ
vacanāya “Dukkaraṃ sāmaññaṃ dukkaraṃ brahmaññan”ti.
|
16. Khi nghe nói đến đây, lơa
thể Kassapa bạch Thế Tôn:
- Tôn giả Gotama, khó hành thay
Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!
- Này Kassapa, đó là lời nói
thường t́nh ở đời: "Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay
Bà-la-môn hạnh! Này Kassapa, như một người sống lơa thể, sống
phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay... như vậy sống theo
hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần. Này
Kassapa, nếu sự khó hành, sự rất khó hành của Sa-môn hạnh, của
Bà-la-môn hạnh chỉ tùy thuộc khổ hạnh này và chỉ tùy thuộc sự
thực hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói: "Khó hành
thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!" |
|
Sakkā ca
panetaṃ abhavissa kātuṃ gahapatinā vā gahapatiputtena vā
antamaso kumbhadāsiyāpi “Handāhaṃ acelako homi, muttācāro,
hatthāpalekhano ‑pa‑ iti evarūpaṃ addhamāsikampi
pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharāmī”ti.
|
Một người cư
sĩ, hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ gái đội ghè
nước có thể làm theo những hạnh: "Tôi sống lơa thể, sống phóng
túng không theo lễ nghi, liếm tay.... như vậy sống theo hạnh
tiết chế ăn uống, cho đến nửa tháng ăn một lần".
|
|
Yasmā ca kho
Kassapa aññatreva imāya mattāya aññatra iminā tapopakkamena
sāmaññaṃ vā hoti brahmaññaṃ vā dukkaraṃ sudukkaraṃ, tasmā
etaṃ kallaṃ vacanāya “Dukkaraṃ sāmaññaṃ dukkaraṃ
brahmaññan”ti. Yato kho Kassapa bhikkhu averaṃ abyāpajjaṃ
mettacittaṃ bhāveti, āsavānañca khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati Kassapa bhikkhu samaṇo
itipi brāhmaṇo itipi.
|
Này Kassapa, v́ ngoài khổ hạnh
này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này, Sa-môn hạnh hay Bà-la-môn
hạnh vẫn khó hành tŕ, vẫn thật khó hành tŕ, do vậy thật xứng
đáng mà nói: "Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn
hạnh!" Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận
thù, không ác hại, và với sự tận diệt các lậu hoặc tự giác chứng
và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu,
này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là
Bà-la-môn.
|
|
Sākabhakkho
cepi Kassapa hoti, sāmākabhakkho ‑pa‑ vanamūlaphalāhāro
yāpeti pavattaphalabhojī. Imāya ca Kassapa mattāya iminā
tapopakkamena sāmaññaṃ vā abhavissa brahmaññaṃ vā dukkaraṃ
sudukkaraṃ, netaṃ abhavissa kallaṃ vacanāya “Dukkaraṃ
sāmaññaṃ dukkaraṃ brahmaññan”ti.
|
Này Kassapa, nếu một người chỉ
ăn cỏ lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức... ăn trái cây, rễ cây
trong rừng, ăn trái cây rụng để sống, nếu sự khó hành, sự rất
khó hành của Sa-môn hạnh, của Bà-la-môn hạnh chỉ tùy thuộc khổ
hạnh này, và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này thời thật
không xứng mà nói: "Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay
Bà-la-môn hạnh". |
|
Sakkā ca
panetaṃ abhavissa kātuṃ gahapatinā vā gahapatiputtena vā
antamaso kumbhadāsiyāpi “Handāhaṃ sākabhakkho vā homi,
sāmākabhakkho vā ‑pa‑ vanamūlaphalāhāro yāpemi
pavattaphalabhojī”ti.
Yasmā ca kho
Kassapa aññatreva imāya mattāya aññatra iminā tapopakkamena
sāmaññaṃ vā hoti brahmaññaṃ vā dukkaraṃ sudukkaraṃ, tasmā
etaṃ kallaṃ vacanāya “Dukkaraṃ sāmaññaṃ dukkaraṃ
brahmaññan”ti. Yato kho Kassapa bhikkhu averaṃ abyāpajjaṃ
mettacittaṃ bhāveti, āsavānañca khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati Kassapa bhikkhu samaṇo
itipi brāhmaṇo itipi.
|
Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ, cho
đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những
hạnh: "Tôi chỉ ăn cỏ lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức... ăn trái
cây, rễ cây trong rừng, ăn trái cây rừng để sống".
Này Kassapa,
v́ ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này, Sa-môn
hạnh hay Bà-la-môn hạnh vẫn khó hành tŕ, vẫn thật khó hành tŕ,
do vậy thật xứng đáng mà nói: "Khó hành thay Sa-môn hạnh! Khó
hành thay Bà-la-môn hạnh!" Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu tập
từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận các
lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải thoát,
tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi là
Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn!
|
|
Sāṇāni cepi
Kassapa dhāreti, masāṇānipi dhāreti ‑pa‑ sāyatatiyakampi
udakorohanānuyogamanuyutto viharati. Imāya ca Kassapa
mattāya iminā tapopakkamena sāmaññaṃ vā abhavissa brahmaññaṃ
vā dukkaraṃ sudukkaraṃ, netaṃ abhavissa kallaṃ vacanāya
“Dukkaraṃ sāmaññaṃ dukkaraṃ brahmaññan”ti.
|
Này Kassapa, nếu một người mặc
vải gai thô, mặc vải gai thô trộn lẫn với các vải khác... sống
một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội
lỗi), nếu có sự khó hành, sự rất khó hành của Sa-môn hạnh, của
Bà-la-môn hạnh chỉ tùy thuộc khổ hạnh này và chỉ tùy thuộc sự
thực hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói: "Khó hành
thay Sa-môn hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!" |
|
Sakkā ca
panetaṃ abhavissa kātuṃ gahapatinā vā gahapatiputtena vā
antamaso kumbhadāsiyāpi “Handāhaṃ sāṇānipi dhāremi,
masāṇānipi dhāremi ‑pa‑ sāyatatiyakampi
udakorohanānuyogamanuyutto viharāmī”ti. Yasmā ca kho
Kassapa aññatreva imāya mattāya aññatra iminā tapopakkamena
sāmaññaṃ vā hoti brahmaññaṃ vā dukkaraṃ sudukkaraṃ, tasmā
etaṃ kallaṃ vacanāya “Dukkaraṃ sāmaññaṃ dukkaraṃ
brahmaññan”ti. Yato kho Kassapa bhikkhu averaṃ abyāpajjaṃ
mettacittaṃ bhāveti, āsavānañca khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati Kassapa bhikkhu samaṇo
itipi brāhmaṇo itipīti. |
Một người cư sĩ
hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ gái đội ghè
nước có thể làm theo những hạnh: "Tôi chỉ mặc vải gai thô, mặc
vải gai thô trộn lẫn với các vải khác... sống một đêm tắm ba
lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội lỗi)", này
Kassapa, v́ ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ hạnh này,
Sa-môn hạnh hay Bà-la-môn hạnh vẫn khó hành tŕ, vẫn thật khó
hành tŕ, do vậy thật xứng đáng mà nói: "Khó hành thay Sa-môn
hạnh! Khó hành thay Bà-la-môn hạnh!" Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo
sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự
diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại,
tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy
được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.
|
|
399. Evaṃ vutte acelo Kassapo Bhagavantaṃ
etadavoca
“Dujjāno bho Gotama samaṇo dujjāno
brāhmaṇo”ti. |
17. Khi nghe nói vậy, lăo thể
Kassapa bạch đức Thế Tôn:
- Tôn giả Gotama, khó biết thay một vị Sa-môn! Khó biết thay một
Bà-la-môn!
|
|
Pakati kho
esā Kassapa lokasmiṃ dujjāno samaṇo dujjāno brāhmaṇoti.
Acelako cepi Kassapa hoti, muttācāro, hatthāpalekhano ‑pa‑
iti evarūpaṃ addhamāsikampi
pariyāyabhattabhojanānuyogamanuyutto viharati. Imāya ca
Kassapa mattāya iminā tapopakkamena samaṇo vā abhavissa
brāhmaṇo vā dujjāno sudujjāno, netaṃ abhavissa kallaṃ
vacanāya “Dujjāno samaṇo dujjāno brāhmaṇo”ti.
|
- Này Kassapa, đó là lời nói
thường t́nh ở đời: "Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một
Bà-la-môn!" Này Kassapa, nếu một người sống lơa thể, sống phóng
túng không theo lễ nghi, liếm tay... như vậy sống theo hạnh tiết
chế ăn uống, cho đến nửa tháng chỉ ăn một lần. Này Kassapa, nếu
trở thành một Sa-môn, nếu trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc
khổ hạnh này, và chỉ tùy thuộc sự thi hành khổ hạnh này, thời
thật không xứng mà nói: "Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay
một Bà-la-môn!" |
|
Sakkā ca
paneso abhavissa ñātuṃ gahapatinā vā gahapatiputtena vā
antamaso kumbhadāsiyāpi “Ayaṃ acelako hoti, muttācāro,
hatthāpalekhano ‑pa‑ iti evarūpaṃ addhamāsikampi
pariyāyabhattabhojānānuyogamanuyutto viharatī”ti.
|
Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ cho đến
một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh:
"Tôi sống lơa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm
tay... như vậy sống theo hạnh tiết chế ăn uống, cho đến nửa
tháng chỉ ăn một lần". |
|
Yasmā ca kho
Kassapa aññatreva imāya mattāya aññatra iminā tapopakkamena
samaṇo vā hoti brāhmaṇo vā dujjāno sudujjāno, tasmā etaṃ
kallaṃ vacanāya “Dujjāno samaṇo dujjāno brāhmaṇo”ti. Yato
kho (Yato ca kho - Ka)
Kassapa bhikkhu averaṃ abyāpajjaṃ mettacittaṃ bhāveti,
āsavānañca khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ
diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja
viharati. Ayaṃ vuccati Kassapa bhikkhu samaṇo itipi brāhmaṇo
itipi.
|
Này Kassapa, nếu trở thành một Sa-môn,
nếu trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này, chỉ tùy
thuộc sự thi hành khổ hạnh này, thời thật không xứng mà nói:
"Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!" Một
người cư sĩ, hay con một người cư sĩ cho đến một người đầy tớ
gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh này: "Tôi sống lơa
thể, sống phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay... như vậy
sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng chỉ ăn một
lần". Này Kassapa, v́ ngoài khổ hạnh này, ngoài sự thực hành khổ
hạnh này, vẫn khó biết vẫn thật khó biết một người Sa-môn hay
một người Bà-la-môn, do vậy thật xứng đáng mà nói: "Khó biết
thay, một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!" Này Kassapa, nếu
Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và
với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện
tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, vị
Tỷ-kheo ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.
|
|
Sākabhakkho
cepi Kassapa hoti sāmākabhakkho ‑pa‑ vanamūlaphalāhāro
yāpeti pavattaphalabhojī. Imāya ca Kassapa mattāya iminā
tapopakkamena samaṇo vā abhavissa brāhmaṇo vā dujjāno
sudujjāno, netaṃ abhavissa kallaṃ vacanāya “Dujjāno samaṇo
dujjāno brāhmaṇo”ti.
|
Này Kassapa, nếu một người chỉ
ăn cỏ lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức... ăn trái cây, rễ cây
trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Này Kassapa, nếu trở thành
một Sa-môn, trở thành một Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này
và chỉ tùy thuộc sự thực hành khổ hạnh này, thời thật không xứng
đáng mà nói: "Khó biết thay một Sa-môn! Khó biết thay một
Bà-la-môn!"
|
|
Sakkā ca
paneso abhavissa ñātuṃ gahapatinā vā gahapatiputtena vā
antamaso kumbhadāsiyāpi “Ayaṃ sākabhakkho vā hoti
sāmākabhakkho ‑pa‑ vanamūlaphalāhāro yāpeti
pavattaphalabhojī”ti.
|
Một người cư sĩ, hay con một người cư sĩ, cho đến
một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể làm theo những hạnh:
"Tôi chỉ ăn lúa để sống, ăn lúa tắc, gạo lức... ăn trái cây, rễ
cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống".
|
|
Yasmā ca kho
Kassapa aññatreva imāya mattāya aññatra iminā tapopakkamena
samaṇo vā hoti brāhmaṇo vā dujjāno sudujjāno, tasmā etaṃ
kallaṃ vacanāya “Dujjāno samaṇo dujjāno brāhmaṇo”ti.
Yato
kho Kassapa bhikkhu averaṃ abyāpajjaṃ mettacittaṃ bhāveti,
āsavānañca khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ
diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja
viharati. Ayaṃ vuccati kassapa bhikkhu samaṇo itipi brāhmaṇo
itipi.
|
Này Kassapa, v́ ngoài
khổ hạnh này, ngoài sự thực khổ hạnh này, vẫn khó biết một người
Sa-môn hay một người Bà-la-môn. Do vậy thật xứng đáng mà nói:
"Khó biết thay, một Sa-môn! Khó biết thay, một Bà-la-môn".
Này Kassapa, nếu Tỷ-kheo sống tu
tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và với sự diệt tận
các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện tại, tâm giải
thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy được gọi
là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.
|
|
Sāṇāni cepi
Kassapa dhāreti, masāṇānipi dhāreti ‑pa‑ sāyatatiyakampi
udakorohanānuyogamanuyutto viharati. Imāya ca Kassapa
mattāya iminā tapopakkamena samaṇo vā abhavissa brāhmaṇo vā
dujjāno sudujjāno, netaṃ abhavissa kallaṃ vacanāya “Dujjāno
samaṇo dujjāno brāhmaṇo”ti.
|
Này Kassapa, nếu một người mặc
vải gai thô, mặc vải gai thô trộn lẫn với các vải khác... sống
một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm (để gột sạch tội
lỗi). Này Kassapa, nếu trở thành một Sa-môn, trở thành một
Bà-la-môn chỉ tùy thuộc khổ hạnh này, và chỉ tùy thuộc sự thực
hành khổ hạnh này thời thật không xứng mà nói: "Khó biết thay
một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!"
|
|
Sakkā ca
paneso abhavissa ñātuṃ gahapatinā vā gahapatiputtena vā
antamaso kumbhadāsiyāpi “Ayaṃ sāṇānipi dhāreti, masāṇānipi
dhāreti ‑pa‑ sāyatatiyakampi udakorohanānuyogamanuyutto
viharatī”ti.
Yasmā ca kho
Kassapa aññatreva imāya mattāya aññatra iminā tapopakkamena
samaṇo vā hoti brāhmaṇo vā dujjāno sudujjāno, tasmā etaṃ
kallaṃ vacanāya “Dujjāno samaṇo dujjāno brāhmaṇo”ti. Yato
kho Kassapa bhikkhu averaṃ abyāpajjaṃ mettacittaṃ bhāveti,
āsavānañca khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ
diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja
viharati. Ayaṃ vuccati Kassapa bhikkhu samaṇo itipi brāhmaṇo
itipīti.
|
Một người cư sĩ hay con một
người cư sĩ, cho đến một người đầy tớ gái đội ghè nước có thể
làm theo những hạnh: "Tôi mặc vải gai thô, mặc vải gai thô trộn
lẫn với các vải khác ... sống một đêm tắm ba lần".
Này Kassapa,
v́ ngoài khổ hạnh này vẫn rất khó biết một người Sa-môn hay một
người Bà-la-môn. Do vậy thật xứng đáng mà nói: "Khó biết thay
một Sa-môn! Khó biết thay một Bà-la-môn!" Này Kassapa, nếu
Tỷ-kheo sống tu tập từ bi tâm, không hận thù, không ác hại, và
với sự diệt tận các lậu hoặc, tự giác chứng và an trú ngay hiện
tại, tâm giải thoát, tuệ giải thoát vô lậu, này Kassapa, Tỷ-kheo
ấy được gọi là Sa-môn, được gọi là Bà-la-môn.
|
|
Sīlasamādhipaññāsampadā
400.
Evaṃ vutte acelo Kassapo Bhagavantaṃ etadavoca
“Katamā pana
sā bho Gotama sīlasampadā, katamā cittasampadā, katamā
paññāsampadā”ti.
Idha Kassapa Tathāgato loke uppajjati
Arahaṃ Sammāsambuddho ‑pa‑ bhayadassāvī samādāya sikkhati
sikkhāpadesu, kāyakammavacīkammena samannāgato kusalena
parisuddhājīvo sīlasampanno indriyesu guttadvāro
satisampajaññena samannāgato santuṭṭho.
|
18. Khi nghe nói vậy, lơa thể
Kassapa bạch đức Thế Tôn:
- Tôn giả Gotama, thế nào là
giới cụ túc? Thế là tâm cụ túc? Thế nào là tuệ cụ túc?
- Này Kassapa, nay ở đời, Như
Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri... (xem
Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40-42)... thấy nguy hiểm trong
những lỗi nhỏ nhặt, thọ lănh và tu học trong giới pháp, thân
nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, sanh hoạt trong sạch, giới hạnh
cụ túc, thủ hộ các căn, đầy đủ chánh niệm, chánh trí và biết tri
túc.
|
|
401.
Kathañca Kassapa bhikkhu sīlasampanno hoti. Idha Kassapa
bhikkhu pāṇātipātaṃ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti
nihitadaṇḍo nihitasattho lajjī dayāpanno,
sabbapāṇabhūtahitānukampī viharati. Idampissa hoti
sīlasampadāya ‑pa‑.
|
Này Kassapa, thế nào là Tỷ-kheo
giới hạnh cụ túc? Ở đây, này Kassapa, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh,
tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quư, có ḷng từ,
sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu
t́nh. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật ... (như
Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43-61),...
|
|
Yathā vā
paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni bhojanāni
bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena
jīvitaṃ kappenti. Seyyathidaṃ, santikammaṃ paṇidhikammaṃ
‑pa‑ osadhīnaṃ patimokkho iti vā, iti evarūpāya
tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti
sīlasampadāya.
|
Trong khi một số
Sa-môn, Bà-la-môn dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường
vẫn c̣n tự nuôi sống bằng những tà mạng, như dùng các ảo thuật
để được an ổn, để khỏi làm các điều đă hứa... (như
Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 62).... ngăn ngừa công hiệu
của thuốc. C̣n vị ấy th́ tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy
là giới cụ túc của vị ấy.
|
|
Sa khoso (Ayaṃ
kho - Ka)
Kassapa
bhikkhu evaṃ sīlasampanno na kutoci bhayaṃ samanupassati,
yadidaṃ sīlasaṃvarato. Seyyathāpi Kassapa rājā khattiyo
muddhāvasitto nihatapaccamitto na kutoci bhayaṃ
samanupassati, yadidaṃ paccatthikato. Evameva kho Kassapa
bhikkhu evaṃ sīlasampanno na kutoci bhayaṃ samanupassati,
yadidaṃ sīlasaṃvarato, so iminā ariyena sīlakkhandhena
samannāgato ajjhattaṃ anavajjasukhaṃ paṭisaṃvedeti. Evaṃ kho
Kassapa bhikkhu sīlasampanno hoti. Ayaṃ kho Kassapa
sīlasampadā.
|
Và như vậy, này Kassapa, vị Tỷ-kheo
ấy, nhờ giới luật cụ túc nên không thấy sợ hăi từ một chỗ nào về
sự hộ tŕ giới luật. Này Kassapa, như một Sát-đế-lỵ đă làm lễ
quán đảnh, đă hàng phục kẻ thù địch, không c̣n thấy sợ hăi chỗ
nào về sự thù địch. Cũng vậy, này Kassapa, Tỷ-kheo ấy nhờ giới
luật cụ túc, nên không thấy sợ hăi từ một chỗ nào về sự hộ tŕ
giới luật. Vị ấy nhờ cụ túc giới luật cao quư này, nên hưởng lạc
thọ, nội tâm thanh tịnh. Như vậy, này Kassapa, Tỷ-kheo giới luật
cụ túc.
|
|
|
19. Này Kassapa, thế nào là vị
Tỷ-kheo bảo hộ các căn? Này Kassapa, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo
không nắm giữ tướng chung... (như
Kinh Sa-môn quả, đoạn số 64)... những nguyên nhân ǵ v́ ư
căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện
pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ tŕ ư căn,
thực hành sự hộ tŕ ư căn. Vị ấy, nhờ sự hộ tŕ cao quư các căn
ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm thanh tịnh... Như vậy, này
Kassapa Tỷ-kheo hộ tŕ các căn... (như
Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 64-75)... khi quán tự thân đă
xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh;
do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ
sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh.
|
|
‑pa‑ paṭhamaṃ
jhānaṃ upasampajja viharati. Idampissa hoti cittasampadāya
‑pa‑ dutiyaṃ jhānaṃ. Tatiyaṃ jhānaṃ. Catutthaṃ jhānaṃ
upasampajja viharati. Idampissa hoti cittasampadāya. Ayaṃ
kho Kassapa cittasampadā.
|
Tỷ-kheo ly dục, ly ác
pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly
dục sanh, với tầm với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt làm cho
sung măn tràn đầy thân ḿnh với hỷ lạc do ly dục sanh, không một
chỗ nào trên toàn thân không do hỷ lạc từ ly dục sanh ấy thấm
nhuần. Này Kassapa, như một người hầu tắm lăo luyện hay đệ tử
người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền
nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt,
nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước
nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này Kassapa Tỷ-kheo thấm
nhuần, tẩm ướt, làm cho sung măn, tràn đầy thân ḿnh với hỷ lạc
do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ
lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. Như vậy là tâm cụ túc của vị
ấy.
Lại nữa, này Kassapa, Tỷ-kheo
diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm... (như
Kinh Sa-môn quả , đoạn kinh số 77-79)... đệ tam thiền (như
Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 79-81)... chứng và trú vào
thiền thứ tư... (như
Kinh Sa-môn quả , đoạn kinh số 81-82)... đó là tâm cụ túc
của vị ấy. Này Kassapa, đó là tâm cụ túc.
|
|
So evaṃ
samāhite citte ‑pa‑ ñāṇadassanāya cittaṃ abhinīharati
abhininnāmeti. Idampissa hoti paññāsampadāya ‑pa‑ nāparaṃ
itthattāyāti pajānāti. Idampissa hoti paññāsampadāya. Ayaṃ
kho Kassapa paññāsampadā.
|
20. Với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến
chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: "Thân này của ta là sắc pháp,
do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô
thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân
ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc."
Này Kassapa, ví như một ḥn lưu
ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt khéo giũa, khéo mài,
sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi
dây được xâu qua ḥn ngọc ấy, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu
đỏ, màu trắng hay màu nhạt. Một người có mắt cầm ḥn ngọc ấy ở
trên tay sẽ thấy: "Ḥn ngọc lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong
suốt, có tám mặt, khéo giũa, khéo mài, sáng chói, không uế
trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi dây này được xâu qua ḥn
ngọc ấy, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, hay màu
vàng nhạt". Cũng vậy, này Kassapa, với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, b́nh thản như vậy, vị Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến
chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: "Thân này của ta là sắc pháp,
do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô
thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt. Trong thân
ấy, thức ta lại nương tựa và bị trói buộc". Đó là tuệ cụ túc của
vị ấy... (như
Kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 85-98)... Vị ấy biết: "...
không có đời sống nào khác nữa". Đó là tuệ cụ túc của vị ấy. Này
Kassapa, đó là tuệ cụ túc.
|
|
Imāya ca
Kassapa sīlasampadāya cittasampadāya paññāsampadāya aññā
sīlasampadā cittasampadā paññāsampadā uttaritarā vā
paṇītatarā vā natthi.
|
Này Kassapa, và không có một
giới cụ túc, tâm cụ túc, tuệ cụ túc nào khác cao thượng hơn, thù
thắng hơn giới cụ túc, tâm cụ túc và tuệ cụ túc này.
|
|
Sīhanādakathā
402.
Santi Kassapa eke samaṇabrāhmaṇā sīlavādā, te
anekapariyāyena sīlassa vaṇṇaṃ bhāsanti, yāvatā Kassapa
ariyaṃ paramaṃ sīlaṃ, nāhaṃ tattha attano samasamaṃ
samanupassāmi, kuto bhiyyo, atha kho ahameva tattha bhiyyo,
yadidaṃ adhisīlaṃ.
|
21. Này Kassapa, có một số
Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương giới luật. Những vị này dùng nhiều
phương tiện tán thán giới luật. Này Kassapa, nói về giới luật
tôn kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng giới
luật của Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy Ta hơn trên tất cả
về giới luật, tức là tăng thượng giới.
|
|
Santi Kassapa
eke samaṇabrāhmaṇā tapojigucchāvādā, te anekapariyāyena
tapojigucchāya vaṇṇaṃ bhāsanti, yāvatā Kassapa ariyā paramā
tapojigucchā, nāhaṃ tattha attano samasamaṃ samanupassāmi,
kuto bhiyyo, atha kho ahameva tattha bhiyyo, yadidaṃ
adhijegucchaṃ.
|
Này Kassapa, có một số Sa-môn,
Bà-la-môn chủ trương khổ hạnh, yểm ly. Những vị này dùng nhiều
phương tiện tán thán khổ hạnh, yểm ly. Này Kassapa, nói về khổ
hạnh yểm ly tôn kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một
ai bằng được khổ hạnh yểm ly của Ta, làm sao có ai hơn được. Như
vậy Ta hơn trên tất cả về khổ hạnh yểm ly, tức là tăng thượng
yểm ly.
|
|
Santi Kassapa
eke samaṇabrāhmaṇā paññāvādā, te anekapariyāyena paññāya
vaṇṇaṃ bhāsanti, yāvatā Kassapa ariyā paramā paññā, nāhaṃ
tattha attano samasamaṃ samanupassāmi, kuto bhiyyo, atha kho
ahameva tattha bhiyyo, yadidaṃ adhipaññaṃ.
|
Này Kassapa, có một số Sa-môn,
Bà-la-môn chủ trương trí tuệ. Những vị này dùng nhiều phương
tiện tán thán trí tuệ. Này Kassapa, nói về trí tuệ tôn kính cao
thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng được trí tuệ của
Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy Ta hơn trên tất cả về trí
tuệ, tức là tăng thượng trí tuệ.
|
|
Santi Kassapa
eke samaṇabrāhmaṇā vimuttivādā, te anekapariyāyena vimuttiyā
vaṇṇaṃ bhāsanti, yāvatā Kassapa ariyā paramā vimutti, nāhaṃ
tattha attano samasamaṃ samanupassāmi, kuto bhiyyo, atha kho
ahameva tattha bhiyyo, yadidaṃ adhivimutti.
|
Này Kassapa, có một số Sa-môn,
Bà-la-môn chủ trương giải thoát. Những vị này dùng nhiều phương
tiện tán thán giải thoát. Này Kassapa, nói về giải thoát tôn
kính cao thượng nhất, Ta nhận thấy không có một ai bằng được
giải thoát của Ta, làm sao có ai hơn được. Như vậy, Ta hơn trên
tất cả về giải thoát, tức là tăng thượng giải thoát.
|
|
403.
Ṭhānaṃ
kho panetaṃ Kassapa vijjati, yaṃ aññatitthiyā paribbājakā
evaṃ vadeyyuṃ “Sīhanādaṃ kho samaṇo Gotamo nadati, tañca kho
suññāgāre nadati, no parisāsū”ti. Te “Mā hevan”tissu
vacanīyā, “Sīhanādañca samaṇo Gotamo nadati, parisāsu ca
nadatī”ti evamassu Kassapa vacanīyā.
|
22. Này Kassapa, sự t́nh này có
thể xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể nói: "Sa-môn Gotama rống
tiếng rống con sư tử nhưng chỉ tại chỗ vắng người, không ở giữa
đại chúng". Nên nói với chúng: "Chớ có nói như vậy. Sa-môn
Gotama rống tiếng rống con sư tử tại chỗ vắng người và cả giữa
đại chúng". Này Kassapa, nên nói với chúng như vậy.
|
|
Ṭhānaṃ
kho panetaṃ Kassapa vijjati, yaṃ aññatitthiyā paribbājakā
evaṃ vadeyyuṃ “Sīhanādañca samaṇo Gotamo nadati, parisāsu ca
nadati, no ca kho visārado nadatī”ti. Te “Mā hevan”tissu
vacanīyā, “Sīhanādañca samaṇo Gotamo nadati, parisāsu ca
nadati, visārado ca nadatī”ti evamassu Kassapa vacanīyā.
Ṭhānaṃ
kho panetaṃ Kassapa vijjati, yaṃ aññatitthiyā paribbājakā
evaṃ vadeyyuṃ “Sīhanādañca samaṇo Gotamo nadati, parisāsu ca
nadati, visārado ca nadati, no ca kho naṃ pañhaṃ pucchanti
‑pa‑ pañhañca naṃ pucchanti, no ca kho nesaṃ pañhaṃ puṭṭho
byākaroti ‑pa‑ pañhañca nesaṃ puṭṭho byākaroti, no ca kho
pañhassa veyyākaraṇena cittaṃ ārādheti ‑pa‑ pañhassa ca
veyyākaraṇena cittaṃ ārādheti, no ca kho sotabbaṃ maññanti
‑pa‑ sotabbaṃ cassa maññanti, no ca kho sutvā pasīdanti ‑pa‑
sutvā cassa pasīdanti, no ca kho pasannākāraṃ karonti ‑pa‑
pasannākārañca karonti, no ca kho tathattāya paṭipajjanti
‑pa‑ tathattāya ca paṭipajjanti, no ca kho paṭipannā
ārādhentī”ti. Te “Mā hevan”tissu vacanīyā, “Sīhanādañca
samaṇo Gotamo nadati, parisāsu ca nadati, visārado ca
nadati, pañhañca naṃ pucchanti, pañhañca nesaṃ puṭṭho
byākaroti, pañhassa ca veyyākaraṇena cittaṃ ārādheti,
sotabbañcassa maññanti, sutvā cassa pasīdanti,
pasannākārañca karonti, tathattāya ca paṭipajjanti,
paṭipannā ca ārādhentī”ti evamassu Kassapa vacanīyā.
|
Này Kassapa, sự t́nh này có thể
xảy ra. Các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi: "Sa-môn Gotama rống
tiếng rống con sư tử giữa đại chúng, nhưng rống không với tinh
thần vô úy... với tinh thần vô úy... và "Không có ai hỏi Sa-môn
Gotama câu hỏi ǵ... và "có người hỏi Sa-môn Gotama"... "Khi có
người hỏi, Sa-môn Gotama không thể trả lời"... và "Khi có người
hỏi, Sa-môn Gotama trả lời cho chúng"... và "Dầu cho có trả lời,
câu trả lời không làm tâm người ta thỏa măn"... và "Câu trả lời
làm tâm người ta thỏa măn"... "Nhưng người ta không xem ư kiến
của Sa-môn Gotama là đáng được nghe".... "Người ta xem ư kiến
của Sa-môn Gotama là đáng được nghe".... "Dầu cho có được nghe,
người ta cũng không tin tưởng"... "Người ta nghe có ḷng tin
tưởng"... "Dầu cho người ta có ḷng tin tưởng, người ta không
biểu lộ ḷng tin tưởng"... "Người ta có ḷng tin tưởng và biểu
lộ ḷng tin tưởng" ... "Dầu cho có biểu lộ ḷng tin tưởng, người
ta không đạt đến chỗ như thực".... "Người ta đạt đến chỗ như
thực".... "Dầu cho đạt đến chỗ như thực, người ta không đem ra
thực hành được". Nên nói với chúng: "Chớ có nói như vậy. Sa-môn
Gotama rống tiếng rống con sư tử, rống ở giữa đại chúng, rống
với tinh thần vô úy, có người hỏi Sa-môn Gotama, Sa-môn Gotama
trả lời khi được hỏi, câu trả lời làm tâm người ta được thỏa
măn, người ta xem ư kiến của Sa-môn Gotama đáng được nghe, sau
khi được nghe người ta tin tưởng, khi có ḷng tin tưởng người ta
biểu lộ ḷng tin tưởng, người ta đạt đến chỗ như thực, đạt đến
chỗ như thực, người ta đem ra thực hành". Này Kassapa, nên nói
với chúng như vậy.
|
|
Tatthiyaparivāsakathā
404.
Ekamidāhaṃ Kassapa samayaṃ Rājagahe viharāmi Gijjhakūṭe
pabbate, tatra maṃ aññataro tapabrahmacārī Nigrodho nāma
adhijegucche pañhaṃ apucchi, tassāhaṃ adhijegucche pañhaṃ
puṭṭho byākāsiṃ, byākate ca pana me attamano ahosi paraṃ
viya mattāyāti.
|
23. Này Kassapa, một thời Ta ở
tại Vương Xá trên núi Linh Thứu. Lúc bấy giờ, có người Phạm chí
tu khổ hạnh tên là Nigrodha đến hỏi về tối thắng khổ hạnh yểm
ly. Khi được hỏi về tối thắng khổ hạnh yểm ly, Ta đă trả lời. Và
khi được Ta trả lời, vị ấy phát tâm hoan hỷ như với một hoan lạc
tối thượng.
|
|
Ko hi bhante Bhagavato dhammaṃ sutvā na
attamano assa paraṃ viya mattāya. Ahampi hi bhante Bhagavato
dhammaṃ sutvā attamano paraṃ viya mattāya. Abhikkantaṃ
bhante, abhikkantaṃ bhante. Seyyathāpi bhante nikkujjitaṃ vā
ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ
ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya “Cakkhumanto
rūpāni dakkhantī”ti. Evamevaṃ Bhagavatā anekapariyāyena
dhammo pakāsito, esāhaṃ bhante Bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi
Dhammañca Bhikkhusaṃghañca, labheyyāhaṃ bhante Bhagavato
santike pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasampadanti.
|
- Bạch Đại đức, ai có thể sau
khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, lại không hoan hỷ như với một hoan
lạc tối thượng? Thật vi diệu thay, bạch Đại đức! Thật vi diệu
thay, bạch Đại đức! Bạch Đại đức, như người dựng đứng lại những
ǵ bị quăng ngă xuống, phơi bày ra những ǵ bị che kín, chỉ
đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những
ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đă được Thế Tôn
dùng nhiều phương tiện tŕnh bày giải thích. Và nay con xin quy
y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y Tỷ-kheo Tăng. Bạch Đại đức, con xin
xuất gia với Thế Tôn, con xin thọ đại giới.
|
|
405.
Yo kho Kassapa aññatitthiyapubbo imasmiṃ Dhammavinaye
ākaṅkhati pabbajjaṃ, ākaṅkhati upasampadaṃ, so cattāro māse
parivasati, catunnaṃ māsānaṃ accayena āraddhacittā bhikkhū
pabbājenti, upasampādenti bhikkhubhāvāya. Api ca mettha
puggalavemattatā viditāti.
|
24. - Này Kassapa, ai trước kia
là ngoại đạo, nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong pháp và
luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng
biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ư sẽ cho xuất gia, cho thọ đại
giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng ta nhận thấy cá tánh con người
sai biệt nhau.
|
|
Sace bhante aññatitthiyapubbā
imasmiṃ Dhammavinaye ākaṅkhanti pabbajjaṃ, ākaṅkhanti
upasampadaṃ, cattāro māse parivasanti, catunnaṃ māsānaṃ
accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti, upasampādenti
bhikkhubhāvāya. Ahaṃ cattāri vassāni parivasissāmi, catunnaṃ
vassānaṃ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu,
upasampādentu bhikkhubhāvāyāti.
|
- Bạch Đại đức, nếu những người
xưa kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong
pháp và luật này phải sống bốn tháng biệt trú, sau khi sống bốn
tháng biệt trú chúng Tăng nếu đồng ư sẽ cho xuất gia, cho thọ
đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống
biệt trú bốn năm, nếu chúng Tăng đồng ư, mong chúng Tăng xuất
gia cho con, thọ đại giới cho con để thành vị Tỷ-kheo.
|
|
Alattha kho
acelo Kassapo Bhagavato santike pabbajjaṃ, alattha
upasampadaṃ, acirūpasampanno kho panāyasmā Kassapo eko
vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto na cirasseva
yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṃ
pabbajanti, tadanuttaraṃ brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi, “Khīṇā
jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ
itthattāyā”ti abbhaññāsi,
aññataro kho panāyasmā Kassapo
Arahataṃ ahosīti.
|
Và lơa thể Kassapa được xuất gia
với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu,
Đại đức Kassapa ở một ḿnh an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt
tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối
cao mà con cháu các lương gia đă xuất gia từ bỏ gia đ́nh, sống
không gia đ́nh, hướng đến. Đó là vô thượng cứu cánh phạm hạnh
ngay trong hiện tại, tự ḿnh với thắng trí, chứng ngộ và an trú:
"Sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, những ǵ nên làm đă làm, sau
đời này sẽ không có đời sống khác nữa". Đại đức Kassapa liễu tri
như vậy.
Và đại đức Kassapa trở thành một
vị A-la-hán nữa.
|
|
Mahāsīhanādasuttaṃ niṭṭhitaṃ aṭṭhamaṃ. |
|
| <Trang Trước> |
<Bài
Kinh Kế> |
|